Thiên nhiên và môi trường -Sự tàn phá của loài người.

Trong suốt chiều dài lịch sử, ta thấy được con người đã có rất nhiều thành tựu trong việc cải tạo thiên nhiên nhằm phục vụ cuộc sống – điển hình trong nông nghiệp hoặc trong việc quy hoạch, khai thác các khu vui chơi giải trí. Thế nhưng trên thực tế, bất kỳ tác động nào lên thiên nhiên cũng có cái giá của nó – chỉ là rẻ hay đắt mà thôi. Điều nguy hiểm nhất là đôi khi, cái giá phải trả không thể nhìn thấy ngay mà tích lũy dần dần – để đến khi không thể “khuất mắt trông coi” được nữa thì đã quá muộn.

Bài viết này sẽ chỉ ra những lần như thế đã và đang xảy ra trong lịch sử loài người. Những sự kiện ấy sẽ được trình bày trong bài viết này ở mức độ nghiêm trọng tăng dần.

I . “Vô tình” phá hoại hệ sinh thái:

Không có gì hợp lý hơn là để mở đầu bài viết này với sự “vô tình” của loài người. Tất cả những ví dụ dưới đây đều là những người không cố ý, nhưng lại tạo ra những “thảm họa” cho hệ sinh thái nơi họ sống. Suy cho cùng, “không biết thì không có tội” đúng không?

1. Thỏ ở Úc:

Thỏ được mang tới Úc lần đầu tiên vào năm 1788, cùng với Đội tàu đầu tiên (the First Fleet) gồm 11 tàu từ Anh sang Úc – là nhóm dân di cư đầu tiên từ Châu Âu sang. Những con thỏ này được sử dụng làm nguồn thức ăn và trong suốt thập kỷ đầu tiên, không có bằng chứng khảo cổ nào cho thấy sự tăng “dân số” của chúng.

Câu chuyện bắt đầu vào tháng 10 năm 1859, khi mà Thomas Austin thả 24 con thỏ hoang dã trên đất của hắn – tòa nhà Barwon Park, gần Winchester, bang Victoria. Khi còn ở Anh, Thomas là một tay săn nghiệp dư, thường xuyên đi săn thỏ vào cuối tuần. Để cho đỡ “nhớ nhà”, Thomas nhờ người cháu ở Anh gửi một vài loại thỏ khác nhau sang để tạo thành một “bầy thỏ nho nhỏ” nhằm phục vụ mục đích săn bắn. Tuy nhiên “bầy thỏ nho nhỏ” này là điểm khởi đầu của một nạn dịch thỏ ở Úc.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ “dân số thỏ”; một trong những nguyên nhân chính là do sản phẩm “thỏ lai” từ nhiều giống thỏ khác nhau có khả năng thích nghi tốt hơn với môi trường ở Úc. Chưa kể, do có một mùa đông không quá lạnh, các “đồng chí thỏ” có thể sinh sản cả năm không bị giới hạn.

Hậu quả là một thảm họa sinh thái cho nước Úc. Đầu tiên là việc ăn toàn bộ cỏ xanh. Do tốc độ sinh trưởng của cỏ không thể so được với tốc độ sinh sản của thỏ – các bạn tai dài chuyển sang ăn các cây gỗ – cả lá và vỏ cây. Một hệ quả là các cây non không thể sinh trưởng được. Ngoài ra, khi ăn hết các loại cỏ và cây, lớp đất trên cùng trở nên khô cứng – biến phần đất đó trở thành nạn nhân cho sự xói mòn và sạt lún. Việc phục hồi lớp đất trên cùng có thể mất tới hàng trăm năm. Chưa kể, một số báo cáo còn cho rằng loài thỏ là nguyên nhân biến mất hoàn toàn của rất nhiều các loại thực vật và những động vật ăn cỏ khác.

Chính phủ Úc đã phải sử dụng đến nhiều biện pháp như: săn bắn, xây hàng rào (1907) nhưng không thành công. Vào những năm 1950 thì chính phủ Úc sử dụng một loại virus có tên là Myxoma – được nghiên cứu bởi nhà khoa học Frank Fenner – và đưa vào để giảm dân số thỏ. Loại virus này khiến cho số lượng thỏ giảm rõ rệt – xuống từ 600 triệu con xuống còn khoảng hơn 100 triệu. Tuy nhiên, những con sống sót đã thích nghi để kháng loại virus này. Vào năm 1991, số lượng thỏ tăng lại với con số ước chừng khoảng 200 – 300 triệu con.

Hàng rào thỏ ở Úc

2. Ong lai Châu Phi:

Một khu trang trại ong tại Rio Claro, Sao Paulo, Brazil là điểm đến tiếp theo trong hành trình của chúng ta. Tại đây, Warwick Kerr, một nhà sinh học lai giống ong mật có nguồn gốc từ châu Âu và nam Phi với mục đích tạo ra loài ong cho nhiều mật hơn và thích nghi tốt hơn với môi trường nhiệt đới. Tại trang trại ấy, có một loài ong Châu Phi có tính bảo vệ lãnh thổ rất cao. Để tránh việc giao phối của loài ong này với loài ong châu Âu bừa bãi, những tấm chắn được sử dụng để ngăn giữa các tổ ong khác nhau.

Tuy nhiên, một ngày đẹp trời mùa thu tháng 10, một người chăm sóc ong thấy có hiện tượng những con ong chúa gây trở ngại cho sự di chuyển của ong thợ và quyết định gỡ bỏ các tấm chắn. Việc này vô tình thả 26 bầy ong châu Phi và cho chúng giao phối tự do với những con ong châu Âu ở đó.

Kết quả là loài ong lai châu Phi ra đời – cùng với biệt danh của chúng: ong sát thủ (killer bee). Chúng mang tính bảo vệ lãnh thổ rất cao như ong châu Phi và phản ứng nhanh hơn nhiều so với các loài ong mật châu Âu. Loài ong này có thể theo đuổi các mối đe dọa lãnh thổ đến 500m, thường xuyên tấn công với số lượng lớn. Nạn nhân chủ yếu của chúng bao gồm con người, ngựa và một số loài động vật khác.

3. Chiến dịch bốn loài gây hại:

Chiến dịch bốn loài gây hại – là chiến dịch đầu tiên trong kế hoạch “Đại nhảy vọt” của Trung Quốc trong bốn năm 1958 – 1962. Chiến dịch này được nhắm đến việc tiêu diệt những loài mang dịch bệnh chính, bao gồm: muỗi (bệnh sốt rét), chuột (đủ các loại bệnh dịch), ruồichim sơn ca (ăn các loại hạt ngũ cốc và hoa quả).

Poster của chiến dịch “Bốn loài gây hại”

Chiến dịch này đẩy loài chim sơn ca đến bờ vực tuyệt chủng. Tổ của chúng bị phá, trứng bị đập và chim non bị giết. Người dân Trung Quốc ra đường đập xoong và chảo khiến cho chim sơn ca trưởng thành không có cơ hội nghỉ ngơi trên cây và chết vì kiệt sức. Nhiều con chết ngay trong khi đang bay.

Tuy nhiên, tháng 4 năm 1960, ý kiến của những nhà lãnh đạo Trung Quốc phải thay đổi nhờ nhà nghiên cứu chim Tso-hsin Cheng. Ông chỉ ra rằng, sơn ca không chỉ ăn các loại hạt mà còn ăn cả những loài côn trùng có hại. Trên thực tế, sản lượng gạo của Trung Quốc không hề tăng khi số lượng chim sơn ca giảm – mà ngược lại – thấp hẳn đi. Tuy nhiên, sự thay đổi của những nhà lãnh đạo Trung Quốc là quá muộn khi mà hệ quả đã nhãn tiền. Việc tiêu diệt sơn ca số lượng lớn làm mất cân bằng sinh thái, dẫn đến việc số lượng cào cào tăng mạnh – do được phát triển tự do không bị kìm hãm. Cào cào xuất hiện ở khắp nơi và tàn phá hoa màu không kiểm soát. Đi kèm với việc phá rừng và sử dụng các chất diệt cỏ/côn trùng không đúng cách, sự mất cân bằng sinh thái này được cho là một trong những nguyên nhân chính làm nạn đói những năm 1959-1961 ở Trung Quốc tệ hơn rất nhiều – ước tính hàng chục triệu người chết đói.

Hy vọng 3 ví dụ trên là đủ để bạn hiểu ngay cả sự “vô tình” của loài người cũng có những tác động đáng kể lên hệ sinh thái ở môi trường sống. Tuy nhiên, chúng ta sẽ đến những trường hợp nghiêm trọng hơn – và điểm bắt đầu sẽ là từ ngành công nghiệp.

II. Công nghiệp hóa – … “hiện đại hóa”?

1. Dòng sông bốc cháy:

Dòng sông Cuyahoga là dòng sông ở phía đông bắc bang Ohio, chạy qua thành phố Cleveland và chảy vào sông Erie của Mỹ. Khi Cleveland trở thành một trong những thành phố đi đầu về công nghiệp của Mỹ thì dòng sông này trở nên ô nhiễm một cách nặng nề, đến mức nó tự bốc cháy ít nhất 13 lần – với lần nghiêm trọng nhất vào ngày 22/6/1969.

Lý do thì khá dễ hiểu: tất cả những nhà máy công nghiệp mới thành lập đều xả thải vào con sông này. Trong một hội thảo chuyên đề của đại học Ken State có tả một đoạn sông như sau:

“… Bề mặt sông được bao phủ một lớp dầu nâu mỏng … Hơn nữa, một lượng lớn dầu đen bóng nhẫy dày vài phân trôi nổi theo từng mảng có thể thấy ở khắp bề mặt sông. Rác rưởi và nhiều những mảnh vụn phế thải bị kẹt trong những mảng trôi nổi đó. Các hoạt động kỵ khí khá phổ biến do hàm lượng oxy (trong nước sông) hiếm khi vượt quá một phần triệu … bùn tích tụ dưới đáy sông. Không có bất kỳ sinh vật nào sống được trong dòng sông …”

Ken State University symposium

Nguyên nhân của lần bốc cháy lớn nhất của dòng sông là một chiếc xe ô tô nổ máy ngay gần một vết dầu loang. Thiệt hại của vụ cháy ước tính vào khoảng $50,000 – chủ yếu là tổn hại những cây cầu lân cận. Đây là ví dụ duy nhất trong bài viết này không gây ảnh hưởng quá lớn về người (trực tiếp hay gián tiếp) mà chỉ ảnh hưởng đến môi trường sống.

2. Rác thải điện tử ở Guiyu:

Guiyu là một thị trấn gồm 4 làng cạnh nhau tại Sán Đầu, Quảng Đông, Trung Quốc. Đây là nơi tập kết rác điện tử lớn nhất trên thế giới. Mỗi ngày, có khoảng 60,000 công nhân xử lý hơn 100 xe tải rác trên diện tích 52 km2. Nơi đây được mệnh danh là “nấm mồ đồ điện tử của thế giới”

Vị trí của Guiyu trên bản đồ Trung Quốc

Vốn là một làng trồng lúa, Guiyu bị ô nhiễm tới mức không thể trồng được gì và nước từ sông thì không thể uống nổi. Khoảng 80% trẻ em ở Guiyu bị ngộ độc chì – với hàm lượng chì trong máu cao hơn 54% mức trung bình so với trẻ con ở các khu vực lân cận. Tỷ lệ sảy thai ở đây cũng cao hơn mức trung bình quốc gia.

Một nghiên cứu năm 2008 cho thấy rằng: tỷ lệ chì và đồng cao ở cả nơi làm việc lẫn sân trường. Ở những nơi gần đó, đặc biệt là khu vực ăn uống của trẻ con, có tỷ lệ Niken cao đến mức báo động. Trong các kim loại được tìm thấy, chì có tỷ lệ lớn nhất và đồng đứng thứ hai. Ở khu vực công cộng thì tỷ lệ chì cao vượt mức an toàn khoảng 10 lần – ở các công xưởng thì cao hơn mức an toàn khoảng 50 lần. Các kim loại được tìm thấy chủ yếu ở dạng bụi nên có thể len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống – trong đó có cả đồ ăn.

Ngoài ra, bề mặt đất đai xung quanh các nhà máy xử lý rác bị bão hòa với các kim loại nặng như chì, thiếc và crom. Không chỉ thế, những hồ acid dọc bờ sông được sử dụng cho việc tách vàng ra khỏi các chip điện tử, kèm với các kim loại khác ngấm vào mạch nước ngầm khiến cho nước ở đây không thể sử dụng nổi.

Một đứa bé ăn kem giữa đống rác. Có chắc trong kem của em không chứa bột kim loại?

Điều tồi tệ nhất? Những điều tương tự đang xảy ra ở Ấn Độ, Nigeria, Pakistan và Ghana – trong tương lai gần có thể là cả Việt Nam nữa. Báo cáo về rác điện tử năm 2015 cho thấy, Việt Nam là nước đứng thứ nhì Đông Nam Á về số lượng rác thải điện tử với số lượng 451 nghìn tấn, sau Indonesia (812 nghìn tấn) và đứng trên Malaysia (243 nghìn tấn)

3. Rác thải nhựa:

Nếu nói về chủ đề rác thải, không thể không nhắc đến rác thải nhưa. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này thì cần phải chia rác thải nhựa ra thành hai phần tách biệt: những rác thải nhựa lớn và những mảnh vi nhựa (microplastic).

A. Rác thải nhựa lớn:

Bài viết này không thể nói tất cả về rác thải nhựa, chính vì thế tôi chỉ tập trung vào những mảng kiến thức ít người biết hơn. Trong đó có các “đảo rác”.

Ước tính mỗi năm có khoảng 1.1 – 2.4 triệu tấn rác thải nhựa ra biển qua các con sông. Hơn nửa số rác này có tỉ trọng thấp hơn nước nên không chìm mà trôi nổi trên bề mặt biển và theo dòng chảy tập trung về 5 điểm được gọi là các “đảo rác”. “Đảo rác” Thái Bình Dương – “đảo rác” lớn nhất trong 5 “đảo rác” ở các đại dương trên thế giới -có khoảng 1.8 nghìn tỷ mảnh rác nhựa, tổng trọng lượng lên khoảng 8 tấn.

Đầu tiên phải kể đến ảnh hưởng của những đảo rác này lên các sinh vật biển. Những loài động vật di cư qua hoặc sống ở những khu vực này có thể bị kẹt/ tưởng nhầm rác là đồ ăn. Ước tính, mỗi năm có khoảng 100,000 sinh vật biển chết do ăn hoặc bị kẹt trong rác thải nhựa. Trong đó, những loài động vật bị ảnh hưởng lớn nhất bao gồm: rùa biển, hải cẩu và sư tử biển, các loài chim biển, cá voi và cá heo.

Nếu bạn gặp khó khăn trong việc tưởng tượng ra sự nguy hiểm của rác thải nhựa lên các sinh vật biển thì có thể đặt mình vào vị trí tương tự. Hãy tưởng tượng rằng mỗi lần đói, bạn mở tủ lạnh lấy đồ ăn. Đồ ăn bạn lôi ra có thể là thức ăn thật, hoặc có thể là chất độc. Tuy nhiên hai thứ ấy giống y hệt nhau về mặt hình thức nên bạn không bao giờ biết được mình đang ăn đồ ăn hay chất độc – chỉ sau khi ăn mới rõ ngọn ngành. Bất kỳ bữa nào của bạn cũng có thể là bữa cuối cùng.

Mổ bụng chú cá voi chết ở Philippines và trong bụng chứa đầy rác nhựa

Và nếu các bạn cho rằng những đảo rác này chỉ ảnh hưởng lên sinh vật biển chứ loài người thì “cần gì phải lo” thì bạn đã nhầm. Hiểm họa thực sự của những đảo rác này là khi đặt dưới ánh nắng mặt trời 24/7 thì chúng bị phân rã thành các mảnh rác nhỏ tí xíu (microplastics)

B. Microplastic (vi nhựa):

Theo như định nghĩa của Cơ quan quản lý Đại Dương và Khí Quyển quốc gia Mỹ (NOAA), microplastic là những mảnh nhựa có chiều dài nhỏ hơn 5mm. Khi bị phân rã ra từ rác thải nhựa lớn, thường những mảnh “vi nhựa” này được các động vật biển ăn vào. Do không thể bị phân hủy, những mảnh nhựa này sẽ leo lên trên đầu các chuỗi thức ăn – ở đây là con người. Ngày 4/9/2019, VTV24 cũng đã đưa tin về việc tìm thấy những mảnh vi nhựa này trong phân của con người.

Ảnh hưởng của Microplastic lên các sinh vật biển là rõ rệt hơn cả. Khá nhiều thí nghiệm đã chỉ ra rằng, những mảnh vi nhựa này khi vào cơ thể sẽ chặn đường tiêu hóa, giảm sự thèm ăn – thậm chí là thay đổi toàn hoàn hành vi kiếm ăn của động vật. Tất cả những điều trên khiến cho nhiều loài chết đói – trong đó bao gồm cả rùa và các loại chim biển.

Những mảnh vi nhựa tìm thấy trong bụng chú cá đã chết

Tại thời điểm viết bài này thì chưa có nghiên cứu nào chỉ ra được rõ ràng hiểm họa của các mảnh vi nhựa này với con người, tất cả hiện tại chỉ đang ở mức phỏng đoán và cần nghiên cứu thêm

III. Thảm họa môi trường:

Khác với hai phần trên, những ví dụ được nhắc đến ở phần ba này ở một tầm khác hẳn – và tất cả đều được đánh giá là những thảm họa môi trường khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người – cho dù có sử dụng thang đánh giá nào đi chăng nữa. Tuy nhiên, ví dụ về vụ nổ nhà máy hạt nhân Chernobyl đã được đài báo nói khá nhiều nên tôi sẽ không nhắc tới trong bài viết này nữa.

A. Thảm họa khí ga ở Bhopal:

Rạng sáng ngày 3/12/1984, một lượng lớn khí ga Methyl Isocynate (MIC – công thức hóa học CH3NCO) rò rỉ khỏi nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu Union Carbide ở Bhopal, Ấn Độ và nhanh chóng lan tỏa ra khắp thành phố.

Ngay trong đêm, rất nhiều người tỉnh giấc với những biểu hiện như: khó thở, đau ngứa mắt, cảm giác bị ngạt thở, co thắt khí quản, đau bụng và nôn mửa. Về sáng, một số lượng lớn cư dân thành phố đã tử vong. Những nguyên nhân chết sau khi giám định pháp y bao gồm: ngạt khí, suy sụp tuần hoàn phổi, phù não, phù phổi, hoại tử ống thận/ruột và thoái hóa mỡ gan.

Nhiều người chết ngay trong khi đang ngủ, một số khác thì chết trong quá trình chạy trốn khỏi khu vực có khí độc. Những người có phương tiện di chuyển hít ít khí hơn những người chạy bộ. Ngoài ra, do tỉ trọng MIC cao hơn không khí bình thường nên ở môi trường mở, MIC có xu hướng chìm xuống dưới. Chính vì thế, trẻ con và những người thấp hơn có nồng độ MIC trong cơ thể cao hơn người lớn rất nhiều. Không chỉ thế, nhiều tháng sau đó, tỷ lệ thai chết lưu tăng 300%, tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong tăng 200% trong khu vực thảm họa xảy ra. Ngoài thương vong về con người, các loài động vật, gia súc gia cầm và các động vật nuôi trong nhà cũng chịu chung số phận.

Con số thương vong được chính phủ đưa ra là ít nhất 3,787 người thiệt mạng. Tuy nhiên, có ước tính con số tổng lên hơn 16,000 người – với 8000 ngay trong 2 tuần đầu sau thảm kịch và hơn 8000 chết vì các bệnh liên quan trong nhiều tháng sau đó.

Một người lao công lau những tấm ảnh của những người đã mất trong thảm họa khí ga.
Credit: AP Photo/Prakash Hatvalne

Và đây là một phần khiến cho thảm họa này trở nên bi kịch hơn cả: sự rò rỉ đầu tiên được phát hiện lúc 11:30 đêm. Giải pháp khắc phục được tính toán để xử lý sau giờ nghỉ giải lao lúc 12:15 sáng. Sự việc xấu đi khá nhanh vì trong khoảng thời gian từ 12:40 – 12:45, một bể chứa đi vào trạng thái nguy hiểm và đến 12:50 một nhân viên nhà máy kéo còi báo động. Tuy nhiên, ghi âm của các cuộc điện thoại giữa cảnh sát địa phương và nhà máy trong khoảng thời gian từ 1:25 -2:10 thì “Mọi thứ vẫn ổn”. Mãi đến lần cuối cùng, người nghe điện thoại ở nhà máy mới thừa nhận:” Chúng tôi không rõ chuyện gì đã xảy ra”

B. Bệnh Minamata:

Minamata (hay còn được biết đến với cái tên Chisso-Minamata) là bệnh được đặt theo tên thành phố Minamata – thuộc đảo Kuyshu, Nhật Bản – nơi nó lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1956.

Vào đầu những năm 1950, người dân ở Minamata phát hiện ra những biểu hiện thất thường ở động vật. Những chú mèo bị sùi bọt mép, nhảy nhót một cách điên cuồng và lao xuống biển, chim thường xuyên lao thẳng xuống đất và cá chết khá phổ biến. Một số những biểu hiện phổ biến ở người bao gồm: tê bàn tay bàn chân, yếu cơ, gặp khó khan trong những việc cơ bản hàng ngày như cài khuy áo, phát âm không rõ tiếng. Do ảnh hưởng của hiện tượng này lên mèo khá phổ biến và dễ quan sát được nên căn bệnh này được người dân địa phương đặt cho cái tên “bệnh mèo nhảy múa”

*Nếu bạn nhạy cảm thì không nên xem clip

Bệnh “mèo nhảy múa”

Ngày 21 tháng 4 năm 1956, một bé gái 5 tuổi nhập viện với trạng thái: gặp khó khăn trong việc nói năng, đi lại và co giật. Hai ngày sau, em gái cô bé cũng nhập viện trong tình trạng tương tự. Mẹ cô bé nói rằng những đứa trẻ hàng xóm cũng gặp phải những vấn đề giống như thế. Sau khi tìm hiểu, 8 bệnh nhân khác được đưa vào viện.

Ngày 1/5, bệnh viện báo cáo lên văn phòng sức khỏe công cộng thành phố là phát hiện “một dịch bệnh bí ẩn liên quan đến hệ thần kinh trung ương”. Cuối tháng 8 cùng năm, một nhóm nghiên cứu thuộc trường đại học Kumamoto được thành lập để điều tra nguyên nhân.

Ngày 4 tháng 11 năm 1956, kết luận ban đầu của nghiên cứu được đưa ra:” Bệnh Minamata trên thực tế là ngộ độc kim loại nặng, được dự đoán đi vào cơ thể qua cá và các loái động vật có vỏ (shellfish)”. Tháng 3 năm 1958, nhà thần kinh học người Anh Dougles McAlpine khi thỉnh giảng đã đưa ra gợi ý rằng những bệnh nhân này có biểu hiện của ngộ độc thủy ngân. Tháng 2 năm 1959, kết quả thí nghiệm mẫu tóc của những bệnh nhân Minamata cho thấy, mức thủy ngân cao nhất được ghi lại là 705 ppm (part per million), những người chưa có biểu hiện của bệnh ở mức 191 ppm và những người dân sống ngoài khu vực Minamata là 4 ppm.

Một trong những nạn nhân của bệnh Minamata còn sống sót nhưng không còn lành lặn.

Thủ phạm gây ra hiện tượng này là nhà máy hóa học Chisso (được đặt kèm tên của bệnh) nằm trong khu vực. Từ tháng 8 năm 1951, nhà máy bắt đầu sản xuất acetaldehyde bằng phương thức sử dụng thủy ngân sulfate (HgSO4) làm chất xúc tác. Hệ quả của nó là trong sản phẩm đầu ra có hợp chất thủy ngân hữu cơ có tên gọi Methylmecury ([CH3Hg]+) . Methylmecury chính là nguyên nhân gây ra Minamata.

Vấn đề nằm ở chỗ, trong suốt những năm từ 1959 – khi nhà máy bị đưa vào tâm điểm chú ý vì xả thải ra biển cho đến khi Chisso đổi quy trình sản xuất và không sử dụng thủy ngân sulfate nữa – tháng 5 năm 1968 – 9 năm trời liên tục, ban lãnh đạo Chisso luôn tìm cách chống chế và đưa ra nhiều biện pháp khác nhau để né tránh trách nhiệm.

Những người biểu tình đòi sự đền bù từ Chisso

Sự nhiễm độc thủy ngân ở mức độ rất nặng này – trong 36 năm liên tục – đã giết ít nhất 1784 người, hơn 10000 người bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau – và một số lượng rất lớn mèo, chó và lợn tử vong.

Một đại dịch thứ 2 cũng tương tự diễn ra tại tỉnh Niigata (được biết với cái tên Niigata Minamata) vào năm 1965. 2 dịch này được liệt vào danh sách “Bốn dịch bệnh ô nhiễm của Nhật”

C. Biển Aral:

Biển Aral nằm ở trung tâm của châu Á, lưu vực của nó bao gồm một số nước như Iran, Afghanistan, Nga, Uzerbekistan, v.v. Mặc dù tên gọi là biển nhưng nó là một hồ chứa nước và không có lối thoát ra biển – về mặt địa lý, những hình thế như vậy được gọi là “lòng chảo nội lục”. Hai con sông chính cung cấp nước cho biển Aral là con sông Amu Darya (ở phía nam) và con sông Syr Darya (ở phía đông).

Vị trí biển Aral trên bản đồ

Vào những năm 1960, chính quyền Xô Viết quyết định đổi hướng hai con sông đổ vào biển Aral, cung cấp nước nông nghiệp cho một vùng sa mạc với mục đích trồng trọt. Đây là một phần trong kế hoạch biến cotton trở thành một mặt hàng xuất khẩu chính của liên bang Xô Viết. Kế hoạch này có sự thành công tạm thời vì vào năm 1988, Uzebekistan (thuộc Liên Xô cũ) là nước xuất khẩu cotton lớn nhất thế giới.

Những con kênh dẫn nước được bắt đầu xây dựng sau đó. Có nguồn tin chưa được xác thực cho rằng, những con kênh này chất lượng rất thấp, dẫn đến việc thất thoát nước lớn – có thể lên tới trên 30%.

Từ năm 1960 cho đến 1970, trung bình khoảng 20 – 60 km khối nước đi vào đất liền thay vì vào biển – và cũng chính từ đấy, biển Aral bắt đầu thu hẹp dần. Đến năm 1998, diện tích bề mặt biển còn lại 40% và trữ lượng nước mất đi 80% so với trước khi bị lấy nước làm thủy canh. Độ mặn của nước cũng tăng đáng kể – năm 1990 là 376 g/L – so với nước biển bình thường là 35 g/L và biển Chết là khoảng 300 – 350 g/L. Đến năm 2007, biển Aral chỉ còn lại 1/10 diện tích ban đầu. Sự thu hẹp này đồng thời kiến tạo nên sa mạc Aralkum ngay trên nền lòng hồ cũ.

Biển Aral năm 1989 (trái) và năm 2014 (phải)

Sự thu hẹp của biển Aral là sự sụp đổ của một hệ sinh thái. Đầu tiên phải kể đến độ mặn quá cao của nước. Sau nữa, là khi nước rút dần đã để lộ ra một vùng đồng bằng đầy muối, các hóa chất từ những vụ thử vũ khí, chất thải công nghiệp và tàn dư trong đất của việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón. Do sự giảm sút rõ rệt chất lượng của đất và nước, từ cuối những năm 1960 thì phân bón hóa học được sử dụng với khối lượng rất lớn để đảm bảo sản lượng cotton. Điều này làm cho cả đất và nước ở đây nhiễm độc trầm trọng. Với chất lượng đất giảm sút, không có bất kỳ cây trồng nào có thể sống được trừ cỏ khô làm thức ăn gia súc.

Nước nhiễm độc khiến cho cuộc sống con người ở đây khó khăn hơn bao giờ hết. Sống phụ thuộc vào vùng nước ít còn ỏi sót lại từ thềm biển, phụ nữ và trẻ em trở thành những nạn nhân đầu tiên. Chất độc từ tàn dư thuốc trừ sâu được tìm thấy trong máu và sữa mẹ của những người phụ nữ trong vùng- và có thể dễ dàng truyền lại cho con. Tỷ lệ sinh con có những biểu hiện bất thường ở đây cao gấp 5 lần các nước châu Âu. Ngoài ra, các chất độc được tìm thấy này còn có tác dụng làm chậm hoặc ngừng hẳn sự phát triển của trẻ.

Về mặt khí hậu, những khu vực chứa nước lớn như biển Aral còn có chức năng điều hòa độ ẩm và cân bằng năng lượng của khu vực. Từ khi lượng nước mất đi, mùa hè trở nên nóng hơn và mùa đông lạnh hơn (chênh lệch khoảng 2-6 độ) kèm theo đó là sự xuất hiện của bão cát.

Nếu những người đưa ra quyết định đổi hướng sông từ thời Xô Viết cho rằng ít nhất sự phát triển của ngành trồng cotton còn là một điều tích cực thì điều đó không thể sai lầm hơn. Đổi lấy sự phát triển của cotton là sự biến mất hoàn toàn của ngành thủy hải sản. Sự đánh bắt cá ở khu vực biển Aral chiếm 1/6 toàn bộ sản lượng của Xô Viết và cung cấp khoảng 40.000 việc làm cho người dân trong khu vực. Đến năm 1987, tất cả những điều này đã biến mất. Những làng chài ven biển giờ chỉ còn là nấm mộ cho vô số tàu đánh cá.  Do giảm lượng nước và độ mặn tăng cao, 20 loài cá từng sinh sống ở đây hiện tại chỉ còn một loài duy nhất – cá bơn.

Sự thu hẹp biển Aral được gọi là “một trong những thảm họa môi trường tồi tệ nhất của hành tinh”. Nó cũng được UNESCO công nhận là “Di sản tư liệu của thế giới” – như một tài liệu để học về những “bi kịch về môi trường”.

Điều buồn hơn cả là một trường hợp tương tự cũng đang xảy ra ở chính Việt Nam mà không nhiều người biết đến. Các bạn hãy đọc thêm bài viết này (4/7/2019) trên VNexpress để tìm hiểu kỹ hơn.

D. Thực tại:

Thời gian vừa qua, thảm họa môi trường lớn nhất được nhắc đến là vụ cháy rừng Amazon. Một trong số những yếu tố lớn nhất được nhắc đến là khả năng kiến tạo oxy của nó. Tuy nhiên, trên thực tế, rừng Amazon cung cấp 0% oxy cho thế giới. Tính toán chi tiết các bạn có thể đọc thêm ở bài viết nàyđây. Vậy thì mối nguy lớn nhất từ việc cháy rừng là gì? Đó là lượng CO2 sản sinh ra từ vụ cháy.

Muốn hiểu rõ tác hại của nó bạn cần biết những điều cơ bản về CO2. Khí thải CO2 tích tụ chủ yếu ở bầu khí quyển – tuy nhiên một phần có chìm xuống dưới và được hấp thụ bởi đại dương và cây cối. Phần CO2 tích tụ ở bầu khí quyển tạo ra “hiệu ứng nhà kính”.

Về cơ bản, CO2 tạo thành một lớp vỏ bao bọc trái đất, khiến cho nhiệt từ mặt trời không thoát ra được và bị hấp thụ ngược trở lại vào trái đất – khiến nó nóng lên – đây là hiện tượng trái đất nóng lên (global warming) với một cơ số tác hại mà báo chí hay nhắc tới. Ngoài ra, CO2 còn tương tác với nước biển và tạo thành carbonic acid (H2CO3) – làm axit hóa đại dương – ảnh hưởng trực tiếp đến các loài tảo và các loài động vật biển có vỏ.

Quá trình acid hóa đại dương

Lượng CO2 sản sinh ra từ vụ cháy rừng sẽ làm tăng lượng CO2 sẵn có trong bầu khí quyển. Đi kèm với nó là sự phát rừng để lấy đất canh tác đang diễn ra ở khắp nơi trên thế giới khiến cho CO2 được tích tụ trong cây, trong đất (điển hình ở rừng ngập mặn) được đưa vào bầu khí quyển với số lượng khổng lồ. Điều này sẽ làm tăng cường độ của hiệu ứng nhà kình và đẩy nhanh sự nóng lên của trái đất.

IV. Một phút suy nghĩ:

Qua tất cả những ví dụ tôi kể trên, thì dù là vô tình hay hữu ý, trong suốt lịch sử loài người, chúng ta gây ra không ít thiệt hại cho môi trường – và những sinh vật trong đó – bao gồm cả chính chúng ta. Và điều đó chắc chắn sẽ còn diễn ra trong tương lai.

Không thể phủ nhận rất nhiều lần con người thành công trong việc cải tạo môi trường với mục đích phục vụ cuộc sống – nhưng cũng phải nhìn nhận thực tế là những thất bại hay thảm họa tồi tệ nhất cũng có mục đích và ý đồ của những người liên quan. Vậy thì sự khác nhau là gì?

Sự khác nhau đầu tiên giữa thảm họa và thành công ở đây chính là nhận thức. Nếu nhận thức được việc đang làm đưa ra những hệ quả nghiêm trọng thì phải dừng việc đó lại và tìm phương án giải quyết. Nếu bạn cho rằng có những người đặt những lợi ích về tài chính/cá nhân to hơn nhận thức thì hãy hiểu rằng, trên thực tế, vấn đề nằm ở việc nhận thức của họ còn quá nhỏ và hạn hẹp.

Nếu đã vậy, việc đầu tiên bạn cần làm là hãy nhận thức rằng: tại thời điểm bạn đọc những dòng chữ này, dù là năm 2019 hay năm 2999, con người đang làm một điều gì đó tổn lại đến môi trường mà rất có thể sẽ trở thành thảm họa. Hiện tại, khi chưa có đủ dữ liệu để nói rằng những mẩu vi nhựa có hại cho con người hay không, ta có thể chưa sợ – nhưng hãy hiểu rằng khi rác thải nhựa đang có những ảnh hưởng không tốt lên hệ sinh thái và các loài động vật biển, ta nên có động thái theo chiều hướng tích cực, sửa sai.

Sự khác nhau thứ hai giữa thảm họa và thành công là hành động. Tuy nhiên, tôi không viết bài viết này để kêu gọi các bạn đóng góp hay ủng hộ gì cho môi trường. Nếu chỉ kêu gọi một lần, sức ảnh hưởng của nó sẽ chỉ là thoáng qua mà thôi. Tôi viết bài này với hy vọng thay đổi trước hết là nhận thức, suy nghĩ của các bạn – sau đó các bạn sẽ tự đưa ra được hành động hợp lý cho bản thân mình và môi trường xung quanh.

Nếu các bạn tự nhận thức được những gì con người đã và đang làm với môi trường, thì có thể các bạn sẽ ngập ngừng trước khi vứt rác ra biển; sẽ ngập ngừng suy nghĩ trước khi lấy thêm 1 mớ túi nilon mang về đựng đồ – hoặc sẽ không ngập ngừng khi bỏ tiền mua những vật dụng dùng nhiều lần. Ấy là điều tôi mong muốn.

V. Loài động vật cầu thị:

Một trong những yếu tố then chốt cho thành công của loài người trong thế giới động vật là khả năng học hỏi từ lỗi sai để sửa nó. Và cũng như thế, con người đã/đang cố gắng sửa chữa những sai lầm trong quá khứ của mình với thiên nhiên.

  • Dòng song Cuyahoga từ sau năm 1969 đã được làm sạch một cách kỹ lưỡng từ chính quyền thành phố Cleaveland. Năm 2019, hiệp hội song ngòi Mỹ đã đặt tên nó làm “con sông của năm” để vinh danh “50 năm hồi sinh môi trường”
  • Từ năm 2007, nhờ vào hoạt động của những nhóm hoạt động xã hội và quyền con người làm tăng nhận thức về rác thải điện tử ở Guiyu, chính quyền địa phương đã có những giải pháp đầu tiên để xử lý tình trạng môi trường nghiêm trọng. Việc đốt rác điện tử rồi ngâm chúng trong các bồn acid đã bị cấm. Hơn 800 lò đốt đã bị phá hủy và nhờ thế, bầu không khí trở về mức độ II – mức độ chấp nhận được cho việc sinh sống. Năm 2013, chính quyền tỉnh Quảng Đông thông qua “Đề án toàn diện về giải quyết ô nhiễm chất thải điện tử ở Guiyu ở thành phố Sán Đầu”. Một phần trong đề án là di chuyển tất cả các nhà máy/xưởng sản xuất về cùng một khu công nghiệp để rác thải có thể được xử lý tập trung và đúng cách. Phần lớn đều đã được sát nhập theo số liệu năm 2017.
  • Các vấn đề về rác thải nhựa hiện nay vẫn đang là vấn đề nóng. Tuy nhiên, có những dự án như TheOceanCleanup (https://theoceancleanup.com/) – dự án làm sạch biển lớn nhất từ trước tới nay – đang được triển khai.
  • Sau thảm họa Bhopal, hơn 14 tổ chức phi chính phủ khác nhau đã vào cuộc giúp người dân Bhopal: từ hỗ trợ y tế cho các nạn nhân và những người sống trong khu vực bị ảnh hưởng cho đến bảo hiểm cho những đứa trẻ sinh ra tật nguyền và có vấn đề về thần kinh. Tuy nhiên, công ty hóa chất Dow vẫn có những động thái bất hợp tác và nhiều hành động mờ ám liên quan đến sự việc này.
  • Những vụ kiện tụng tập toàn Chisso vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Những nạn nhân của căn bệnh Minamata hiện đã vào khoảng 40 tuổi với điều kiện sức khỏe tụt giảm nhanh chóng. Chisso vẫn tiếp tục chi trả viện phí và bảo hiểm y tế cho tất cả những người nói trên. Ngoài ra, thành phố Minamata đã nỗ lực rất nhiều để trở thành “thành phố xanh”. Năm 2004 và 2005, Minamata đều được công nhận là “Thành phố xanh đứng đầu Nhật Bản”. Ở tầm quốc tế, năm 2013, Hiệp ước Minamata về Thủy Ngân đã được ký bởi 128 quốc gia (trong đó có Việt Nam) về việc giảm thiểu ô nhiễm thủy ngân với những hoạt động xả thủy ngân ra môi trường xung quanh.
  • Chương trình lưu vực biển Aral” được đưa ra và chấp nhận vào năm 1994 giữa 5 nước, Kazakhstan, Uzerbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan và Turmenistan nhằm mục tiêu cân bằng và cải thiện lại môi trường ở khu vực biển Aral. Năm 2011, phần phía bắc của vùng biển đã được khôi phục phần nào.

VI. Nhìn về tương lai:

Với những gì các bạn vừa đọc, tôi hy vọng các bạn có cái nhìn tổng quan hơn về những tác động xấu của loài người lên môi trường. Với những nhận thức cơ bản ấy, tôi mong các bạn sẽ trở thành giải pháp cho môi trường, chứ không góp phần làm nó xấu đi. Hãy làm như loài người từ trước tới giờ vẫn làm: học từ những sai lầm của quá khứ và sửa sai.

Về phương diện cá nhân, tôi thấy có một số vấn đề các bạn hãy chung tay xử lý cho tương lai ở ngay đất nước Việt Nam này.

  • Đầu tiên là việc đốt vàng mã. Nếu các bạn có đức tin và có mong muốn những điều tốt đẹp cho những người đã khuất, hãy sống tử tế với đúng giá trị của bản thân mình, đóng góp xây dựng tương lai cho những thế hệ sau – vì đó mới là hoàn thành tâm nguyện của người đi trước. Hãy là người đầu tiên trong gia đình bạn dừng hủ tục ấy lại – và sau là thay đổi quan niệm của những người xung quanh.
  • Thứ hai là những quan niệm mê tín về khả năng làm thuốc của những sản phẩm quý hiếm từ động vật: sừng tê giác, cao hổ, cao khỉ, v.v Mỗi loài động vật đều có chức năng của nó trong hệ sinh thái. Tuy nhiên con người đã đẩy không ít loài đến bờ vực tuyệt chủng vì sự mê tín vào những công năng chữa bệnh của bộ phận trong/trên cơ thể của những chúng. Trên thực tế, chúng chẳng có chức năng gì ngoài làm cho ta tin rằng ta đang được “chữa bệnh” – chỉ là hiệu ứng “giả dược” (placebo) mà thôi. Nhưng không có cung thì sẽ không có cầu. Hãy chung tay vào việc giáo dục những người xung quanh, từ bỏ những mê tín cổ hủ để có một tương lai tốt hơn cho những loài động vật đang “chung mái nhà” với chúng ta.

Một cách khách quan và thực tế mà nói, xã hội thời nào cũng sẽ có những người vì danh lợi, tiền bạc mà nhắm mắt làm ngơ. Nhưng như thế không có nghĩa là ta được phép tặc lưỡi thờ ơ. Nếu ta làm ngơ là chính ta đang “nối giáo cho giặc”. Bản thân mình hãy nghĩ cho đúng và làm cho tốt – làm gương cho những người xung quanh. Hãy nhớ rằng, chúng ta cần hành tinh xanh này để tồn tại, chứ nó không cần chúng ta. Vì khi loài người có tuyệt diệt, trái đất này vẫn còn đó, di chuyển theo quỹ đạo định sẵn của nó.

Đúng với tôn chỉ của mình, tôi viết bài này để các bạn có thêm kiến thức để có nhận thực tốt hơn về những điều con người đang làm – để thay đổi suy nghĩ và cuối cùng là hành động của mình. Hãy trở thành một phần của giải pháp, đừng thành một phần của vấn đề.

DN

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.