Rượu- những ảnh hưởng lên cơ thể và bộ não

Năm 2016, tổ chức Y tế thế giới WHO khảo sát hơn 18.000 trường hợp nhập viện do tai nạn giao thông tại Việt Nam. Trong đó:  số người lái xe máy có nồng độ cồn vượt quá ngưỡng cho phép chiếm 36,5%; con số đó với những người lái ô tô là 66,8%. Không chỉ tai nạn giao thông, rượu bia còn là nguyên nhân gây ra các bệnh về tim mạch, gan và ung thư.

Mặc dù chỉ riêng những con số về tai nạn giao thông nhìn đã thấy chóng măt, thì việc sử dụng rượu bia vẫn diễn ra thường nhật; và những ảnh hưởng tiêu cực của nó lên xã hội không hề có dấu hiệu thuyên giảm.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ đi về một số vấn đề bao gồm: lịch sử rượu bia, tác động của rượu bia lên cơ thể và một số lời khuyên trong việc sử dụng rượu bia. Đầu tiên, chúng ta sẽ điểm qua phần lịch sử của những đồ uống có cồn.

I. Lịch sử các đồ uống có cồn:

Những bằng chứng sớm nhất về việc con người sử dụng những đồ uống có cồn được tìm thấy ở phía bắc Trung Quốc – trong những chiếc bình cổ có niên đại vào khoảng 7000 -6600 năm trước Công nguyên.  Ngoài ra, hơn 20 công thức bia được tìm thấy trên những phiến đá làm bằng đất sét của người Summerian vào khoảng những năm 3000 – 2000 trước Công nguyên

Trong suốt chiều dài lịch sử, bia và rượu thường có vị trí văn hóa rất quan trọng trong những nền văn minh khác nhau. Rượu (Người Summerian, Hy Lạp và Trung Quốc cổ) và bia (Ai Cập cổ) đều được coi như đồ uống của những vị thần. Ngoài ra chúng được sử dụng như những phương thuốc để chữa những bệnh khác nhau. Ở Hy Lạp, rượu vang được cho là có thể chữa được chứng hôn mê, tiêu chảy, cơn đau khi sinh và tiệt trùng. Người láng giềng Trung Quốc của ta thì tin rằng rượu có thể làm chậm quá trình lão hóa và giữ sức khỏe nói chung. Ngoài ra, tất cả những nền văn minh trên đều cho rằng những đồ uống có cồn có thể làm hết đau đầu, chống cảm lạnh và tăng sức đề kháng.

Về sản xuất thì người La Mã mới là những người phổ biến việc chế biến rượu. Kế thừa những phương pháp sản xuất của người Hy Lạp, người La Mã chuẩn hóa và phổ biến các mô hình vườn nho để sản xuất rượu và phát triển các phương pháp nấu rượu với số lượng lớn.

Sau khi lược qua cơ bản về rượu, chúng ta sẽ vào phần chính của bài viết này: tác động của rượu lên cơ thể – trong đó, tác động của rượu lên cơ thể được chia làm hai phần chính: phần đầu tiên là tác động của rượu lên cơ thể và phần sau là lên não.

 II. Rượu và cơ thể

1. Quá trình hấp thụ:

Cồn trong rượu bia hay các đồ uống khác là ethanol (còn được gọi là cồn ethyl; có công thức hóa học là C2H6O. Ethanol được sinh ra nhờ quá trình lên men đường. Nhờ vào quá trình sản sinh khá đơn giản, nên Ethanol có rất nhiều trong tự nhiên- điển hình là trong hoa quả. Khi hoa quả chín quá, đường trong đó sẽ lên men và chuyển thành ethanol.

Khi vào cơ thể, khoảng 2-8% cồn mất qua mồ hôi, nước tiểu hoặc hơi thở. 92-98% còn lại được hấp thụ vào cơ thể. Chủ yếu quá trình xảy diễn ra ở gan.

* Quy trình được mình viết ở đây đã đơn giản hóa đi nhiều để các bạn dễ dàng nắm được.

Quy trình xử lý cồn:

Quy trình xử lý cồn diễn ra ở cơ thể như sau:

Quá trình xử lý cồn và các enzyme liên quan
  1. Ethanol được chuyển hóa thành Acetaldehyde thông qua 3 loại enzyme khác nhau (Alcohol dehydrogenase – ADH, Catalase, Cytochrome P450 2E1)
  2. Sau đó Acetaldehyde tiếp tục được xử lý qua enzyme Aldehyde dehydrogenase (ALDH) để thành Acetate và NADH
  3. Acetate tiếp tục được xử lý bởi 2 enzyme khác nữa để trở thành acetyl-CoA rồi được chuyển đến các tế bào và đưa vào chu trình Krebs (Krebs Cycle); hoặc đi vào máu và oxy hóa thành CO2 ở tim, cơ và não.
    • Kreb Cycle có nhiệm vụ chuyển hóa acetyl-CoA thành ATP (Adenosine Triphosphate) – nguồn năng lượng chính mà các tế bào sử dụng – và Co2
  4. NADH tiếp tục được oxy hóa qua một chuỗi phản ứng hóa học khác

Để tránh cho các bạn bị loạn và giữ cho bài viết không quá dài, tôi sẽ chỉ tập trung một số điểm chính chúng ta cần quan tâm trong quá trình này thôi.

Enzyme

Để hiểu được ảnh hưởng của rượu lên cơ thể thì điều đầu tiên ta phải biết đó là các loại enzyme được dùng để xử lý rượu. Đầu tiên là 3 loại Enzyme dùng để phân tách Ethanol thành Acetaldehyde ở bước 1

A. Alcohol Dehydrogenase (ADH): là enzyme chính xử lý phần lớn ethanol được nạp vào cơ thể. ADH hoạt động chủ yếu trong gan và dạ dày.

B. Cytochrome P450 2E1 (CYP2E1): trong trường hợp uống bia rượu ở mức độ vừa và thấp thì cơ thể chỉ cần đến ADH để phân tách ethanol. Với những người uống nhiều rượu hoặc nghiện thì CYP2E1 hoạt động tích cực hơn. Ngoài ethanol thì CYPE2E1 còn có khả năng chuyển hóa một số chất khác nữa như Benzene (có trong các chất hòa tan công nghiệp, xăng, hồ dán, v.v) hoặc Acetone (chất xóa sơn móng tay)

C. Catalase: Catalase là một trong những enzyme phổ biến nhất và có ở khắp nơi trong cơ thể. Nhiệm vụ chính của Catalase là xúc tác cho sự phân tách của Hydrogen peroxide (H2O2) thành nước và Oxy. Catalase còn có nhiệm vụ chuyển hóa cồn trong não.

Sau đó là tách Acetaldehyde thành Acetate ở bước 2

D. Aldehyde dehydrogenase (ALDH): Loài người có một số biến thể ALDH khác nhau. Thể phổ biến nhất và chịu trách nhiệm chủ yếu trong phân tách Acetaldehyde là ALDH2- nằm chủ yếu tại ty thể trong tế bào. Tuy nhiên, ở một số nước Nam Á thì có biến thể ALDH2*2. Biến thể này chỉ có hiệu suất bằng khoảng 8% ALDH2 mà thôi (chi tiết ở dưới)

2. Những ảnh hưởng về mặt sinh học:

Với quy trình xử lý cồn như đã nói ở trên, ở phần này mình sẽ đi sâu vào những ảnh hưởng của cồn lên cơ thể – trong suốt và sau – quá trình xử lý.

A. Acetaldehyde: là sản phẩm đầu tiên của việc xử lý ethanol. Acetaldehyde được Tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) xếp vào các chất gây ung thư loại 1 (Group 1 carcinogenic). Acetaldehyde có thể gây tổn hại cho DNA và gây ra sự phát triển bất thường ở các tế bào cơ.

Acetaldehyde còn liên kết với Dopamine trong não để tạo thành Salsolinol – một chất góp vai trò không nhỏ trong quá trình gây nghiện rượu.

B.  Mất cân bằng tế bào chất: các chuỗi phản ứng để oxy hóa cồn ở gan khiến cho các tế bào gan rơi vào trạng thái giảm tế bào chất (reduced cytosolic environment); dẫn đến việc các tế bào gan dễ bị tấn công bởi các gốc tự do (free radicals) và thậm chí là cả từ chính acetaldehyde.

C. Acetate: Acetate làm tăng máu lưu thông tới gan, làm chậm thần kinh trung ương và có một số ảnh hưởng nhất định tới các quá trình chuyển hóa chất khác.

D. Acetyl CoA: Acetyl CoA tham gia vào quá trình hình thành mỡ và cholesterol trong ty thể.

E. ALDH2*2: biến thể ALDH2 này khá phổ biến ở các nước Nam Á (khoảng 50% dân số Nhật có biến thể này), trong đó có Việt Nam. Chính vì khả năng chuyển hóa Acetaldehyde rất kém, những người có biến thể này có hàm lượng Acetaldehyde rất cao trong máu sau khi uống rượu. Hiện tượng này khiến cho người uống rượu đỏ mặt, đau đầu, chóng mặt, nôn ọe và tim đập rất nhanh đi kèm với một số những hiệu ứng khó chịu khác. Những người có biến thể gene này gần như không thể nghiện rượu cũng vì tác dụng phụ của việc tiêu thụ rượu quá tiêu cực.

F. Giảm oxy huyết (Hypoxia): Quá trình oxy hóa NADH cần tới rất nhiều oxy. Nghiên cứu chỉ ra rằng, những tế bào gan ở gần với mạch máu nhất lấy nhiều oxy hơn cần thiết dẫn đến lượng oxy trong máu cho những tế bào ở những phần còn lại của gan giảm đi. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy, với việc tiêu thụ rượu dẫn đến tình trạng giảm oxy huyết ở các tế bào gan ở tĩnh mạch gan nơi máu đi ra.

G. ROS (Reactive Oxygen Species): ROS là sản phẩm được hình thành khi CYP2E1 tham gia phân tách cồn. 

ROS có thể “ăn cắp” các nguyên tử Hydro hoặc kết hợp với các phân tử khác và biến chúng thành các gốc tự do (free radicals). Đó là các cơ chế khiến cho ROS đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển ung thư (carcinogenesis), xơ vữa động mạch (atherosclerosis), tiểu đường (diabetes), viêm (inflammation), lão hóa (aging) và một vài những quy trình có hại khác.

*****

Kiến thức bổ sung

Để hiểu rõ về ảnh hưởng của ROS về mặt sinh hóa, các bạn cần phải có một số kiến thức cơ bản về các gốc tự do (free radicals), các chất chống oxy hóa và về quá trình kích ứng oxy hóa.

Các tế bào gốc tự do (Free Radicals):

Các tế bào gốc tự do là các phân tử bị thiếu electron. Chính vì thế, các gốc tự do này luôn luôn tìm kiếm và “chiếm” electron từ các phân tử xung quanh. Quá trình tăng (hoặc giảm) electron này được gọi là quá trình oxy hóa phân tử. Điều này dẫn đến 2 hệ quả:

  1. Sau khi chiếm dụng electron từ các phân tử xung quanh, những phân tử bị mất electron lại tiếp tục trở thành các gốc tự do và đi “cướp” của những phân tử xung quanh nó; tiếp tục vòng tròn luẩn quẩn.
  2. Việc chiếm dụng electron ở những đại phân tử (macromolecules) như các phân tử DNA, Protein (đạm), Carbohydrate (tinh bột) và Lipid (chất béo) khiến cho các phân tử này bị tổn thương và làm mất chức năng sẵn có của chúng. Một hệ quả lớn hơn là sự mất cân bằng nội môi (homeostasis) của tế bào.

Những nguyên nhân ngoại cảnh sinh ra các gốc tự do bao gồm khói thuốc lá, phóng xạ, các chất tẩy công nghiệp, v.v

Các chất chống oxy hóa (antioxidants):

Các chất chống oxy hóa là các chất ngăn chặn hoạt động của các gốc tự do bằng cách cho đi các electron của chúng mà không bị tự chuyển hóa thành các gốc tự do khác.

Tương tác giữa các gốc tự do (free radicals) và các chất chống oxy hóa (antioxidant)

Kích ứng oxy hóa (Oxidative stress):

Để đảm bảo hoạt động của cơ thể một cách tối ưu nhất, sự cân bằng giữa các gốc tự do và các chất chống oxy hóa luôn được đảm bảo. Tuy nhiên, khi mất cân bằng, hiện tượng kích ứng oxy hóa sẽ xảy ra.

Hiện tượng này được cho là nguyên nhân gây ra các bệnh liên quan đến viêm (inflammatory) như viêm khớp (arthritis), viêm mạch (vasculitis), viêm thận- tiểu cầu (glomerulonephritis), những hội chứng hô hấp của người lớn (adult respiratory diseases syndrome); các bệnh thiếu máu cục bộ (ischemic diseases) ở tim, đường ruột hay đột quỵ; hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (acquired immunodeficiency syndrome); các bệnh về rối loạn thần kinh như Alzheimer’s, Parkinson’s hay loạn dưỡng cơ (muscular dystrophy) và một cơ số các bệnh khác trong cơ thể.

Tóm tắt: ROS (Reactive Oxygen Species) được sinh ra trong quá trình tiêu hóa rượu và chúng làm tăng lượng gốc tự do trong cơ thể. Khi uống rượu trong thời gian dài và liên tục, lượng gốc tự do đủ lớn sẽ gây ra hiện tượng kích ứng Oxy hóa và có thể dẫn đến một các bệnh liên quan đến viêm, thiếu máu cục bộ và một cơ số các bệnh khác.

*****

CYP2E1:

Như đã nói ở trên, chỉ ở những trường hợp uống nhiều hoặc nghiện rượu thì CYP2E1 mới tham gia vào việc xử lý cồn. Tuy nhiên, sự tham gia của enzyme này có rất nhiều hệ quả không mong muốn.

A . Sản sinh ra ROS (chi tiết ở trên)

B . Việc tăng cường xử lý cồn thông qua CYP2E1 khiến cho khả năng dung nạp cồn (ethanol tolerance) tăng, dẫn đến việc tăng liều lượng ở những lần tiêu thụ rượu tiếp theo để đạt được cảm giác say.

C . CYP2E1 không chỉ chuyển hóa cồn mà còn chuyển hóa rất nhiều các hợp chất khác, đặc biệt là một số loại thuốc. Điều này khiến cho thuốc giảm tác dụng – điển hình như thuốc giảm đau Acetaminophen, thuốc làm loãng máu Warfarin và thuốc gây mê Diazepam. Đây là lý do vì sao khi uống thuốc các bác sĩ luôn khuyên nên tránh sử dụng rượu.

D . CYP2E1 kích hoạt một số các chất gây ung thư trong khói thuốc lá. Chính vì vậy, kết hợp hút thuốc và uống rượu làm tăng khả năng mắc ung thư thực quản (Esophageal) và thanh quản (laryngeal) lên nhiều lần

3. Rượu và giới tính:

Mặc dù việc phân tách rượu thì ai cũng như ai, nhưng tác động của nó lên hai giới tính là khác nhau – ở đây là ảnh hưởng của nó lên hooc môn nam giới Testosterone và hooc môn nữ giới Estrogen.

A. Nam giới:

+ Acetaldehyde – sản phẩm của phân tách rượu là chất độc có ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào Leydig – nơi sản sinh ra testosterone.  Tiếp xúc với chất độc này về lâu dài có thể khiến cho tinh hoàn bị teo nhỏ đi. Ngoài ra, nghiện rượu có thể làm giảm tín hiệu sản xuất Testosterone từ não.

+ Cồn cũng làm tăng tỷ lệ chuyển đổi từ Testosterone thành Estrogen trong gan – khiến cho lưu lượng Testosterone trong máu giảm.

+ Một điều bất ngờ là nếu chỉ uống 1-3 lon bia 330ml thì Testosterone tăng trong một vài giờ sau đó. Tuy nhiên là ở liều cao hơn (4-8 lon) sẽ làm giảm Testosterone trong khoảng 18 – 40%, tùy vào cơ địa từng người. Sau đó, Testosterone sẽ trở về mức bình thường sau khoảng 1 ngày (24 giờ). Ở mức độ 9 lon + thì lượng Testosterone tụt giảm 45% gần như ngay lập tức; ngày hôm sau lượng Testosterone vẫn giảm thấp hơn so với mức độ trung bình 23%.

+ Với những anh em tập thể hình thì việc giảm Testosterone này là điều không mong muốn. Do Testosterone kích thích sự phát triển của cơ thông qua mTOR (mechanistic target of rapamycin) nên khi Testosterone giảm, mTOR giảm theo, đồng nghĩa với việc giảm sự cấu thành các protein của cơ (myofibrillar protein synthesis – MPS). Có nghiên cứu chỉ ra rằng, 9 lon bia sẽ làm giảm khoảng 20% MPS trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau đó

+ Ngoài ra, uống bia sau khi chạy hoặc tập các bài cardio mệt mỏi sẽ kéo dài hiệu ứng giảm Testosterone của cồn lên nam giới

B. Nữ giới:

+ Do Acetaldehyde chủ yếu chỉ gây ra độc tố với tinh hoàn, phụ nữ không phải chịu quá nhiều ảnh hưởng tiêu cực của rượu bia.

+ Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc uống rượu làm tăng Testosterone ở nữ giới – điều này đồng nghĩa với việc tăng ham muốn sau khi uống các loại đồ uống có cồn. Các bạn nữ nên lưu ý vấn đề này, tránh mắc sai lầm không đáng có.

+ Uống rượu cũng làm tăng Estrogen: từ 4-7 lon bia (330ml/lon) có thể làm tăng Estrogen khoảng 66% trong một khoảng thời gian ngắn.

III. Rượu và bộ não

Để hiểu được cách rượu bia ảnh hưởng lên não bộ ta cần có một vài mảng kiến thức cơ bản. Điểm bắt đầu là cách rượu – cũng như các hoạt chất ảnh hưởng đến thần kinh – tác động lên não bộ bằng cách nào.

1. Neuron thần kinh:

Não được cấu thành từ hàng tỷ tế bào đặc thù của riêng nó – neuron thần kinh. Nằm giữa các neuron thần kinh này là các khớp thần kinh (synapses). Các neuron thần kinh này “liên lạc” với nhau qua các khớp thần kinh (synapses) bằng các chất dẫn truyền thần kinh (Neurotransmitters) – vd như Dopamine, Seretonin (Đọc qua Yêu 2 để biết thêm chi tiết). Trong bài viết này, cụm từ “các chất dẫn truyền thần kinh” và “neurotransmitter” được sử dụng với cùng một nghĩa.

Để hiểu cách chúng hoạt động, các bạn hãy nhìn ảnh dưới.

Credit: EnchantedLearning.com

Cấu trúc của một neuron thần kinh có 2 phần chúng ta cần quan tâm cho nội dung bài này: phần Dendrites (receivers)Axon Terminals (transmitters).

Khi một tế bào não hoạt động, một điện thế nhỏ sẽ được tạo ra từ phần thân tế bào (Cell body) và chạy dọc theo sợi trục (Axon) đến Terminals. Khi đến Terminals thì điện thế này sẽ khiến cho các Axon Terminals sản sinh ra các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitter). Các phân tử dẫn truyền thần kinh này sẽ di chuyển qua các khớp thần kinh (Synapses) và đi đến các neuron lân cận. Tại đây, các phân tử dẫn truyền thần kinh sẽ kích thích để các neuron này hoạt động và tiếp tục tạo ra các điện thế -> lặp đi lặp lại vòng tuần hoàn. Đây là cách mà các tín hiệu thần kinh đi từ neuron này sang neuron khác.

Cơ chế kích thích:

Các hợp chất dẫn truyền thần kinh sau khi đi qua các Synapses sẽ tiếp xúc với các tế bào thần kinh tại các Dendrites (receivers). Ở trên Dendrites có nhiều Receptors (các cơ quan tiếp nhận) sẽ tiếp nhận các phân tử dẫn truyền thần kinh này. Một vài điều cơ bản cần biết về bộ đôi Receptors/Neurotransmitter (Cơ quan tiếp nhận/Các chất dẫn truyền thần kinh) này:

  • Hãy tưởng tượng các Receptors như là những ổ khóa với những hình dạng khác nhau và các Neurotransmitter là những chìa khóa có hình dạng tương ứng. Mỗi một loại chìa chỉ có thể mở 1 loại ổ – mỗi 1 loại neurotransmitter chỉ có thể kích hoạt 1 loại receptor nhất định (Dopamine liên kết với Dopamine receptors/ Seratonin liên kết với Seratonin receptors)
  • Công dụng của các Neurotransmitter có thể là kích thích (excite) hoặc ức chế (inhibit). Kích thích là khi các neurotransmitter làm cho các tế bào thần kinh cho chúng hoạt động; ức chế là ngược lại: tắt các tế bào đi không cho chúng hoạt động nữa.
  • Những chất có ảnh hưởng tới thần kinh như đồ uống có cồn (rượu, bia), các loại chất gây nghiện (heroin, methanphetamin) hay các loại thuốc đều hoạt động bằng cách BẮT CHƯỚC các neurotransmitter tự nhiên và liên kết với những receptor tương ứng.  
  • Tuy nhiên, khác với các neurotransmitter tự nhiên, các hợp chất từ bên ngoài vào có thể kích thích các receptor theo nhiều tầng hiệu lực (potency) mạnh/yếu khác nhau. Ở mức độ mạnh, khi liên kết với các receptor, các hợp chất này có thể “ép xung” tế bào não, khiến chúng hoạt động hết công suất; ngược lại, chúng cũng có thể khiến cho não chậm một cách bất thường. Chính hoạt động não ở những mức độ bất thường này (dù là nhanh hay chậm) sẽ tạo ra những hành vi mà ta có thể quan sát được.
  • Ngoài sự khác biệt về hiệu lực thì các chất kích thích thần kinh ngoại lai còn có cường độ khác so với các chất dẫn truyền thần kinh do não tạo ra. Cường độ phụ thuộc vào lượng chất dẫn truyền thần kinh trong não tại một thời điểm nhất định. Lượng các chất dẫn truyền do não tạo thành thường được cơ thể kiểm soát chặt chẽ; tuy nhiên với các hợp chất từ ngoài vào thì nhiều hay ít hoàn toàn do ngoại cảnh. Chính vì thế, cường độ kích thích hay kìm hãm các receptor của những hợp chất này có thể rất cao. Tuy nhiên, cường độ kích thích này chỉ có giới hạn nhất định – do số lượng receptor của một chất dẫn truyền thần kinh bất kỳ là có giới hạn – chỉ có từng đó receptor được kích thích cùng lúc mà thôi.

2. Ảnh hưởng của rượu lên thần kinh:

Sau phần kiến thức cơ bản về neurotransmitter, các chất ảnh hưởng đến thần kinh và cơ chế, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về ảnh hưởng của rượu lên não.

Trong não bộ có 8 hệ thống neurotransmitter chính khác nhau tạo thành một hệ sinh thái các chất dẫn truyền thần kinh được chia thành 2 danh mục chính: Kích thích (Excitatory) hoặc Ức chế (Inhibitory)

Credit: kenhub.com

Kích thích:

  • Acetylcholine
  • Epinephrine
  • Norepinephrine
  • Histamine
  • Glutamate
  • Dopamine

Ức chế:

  • GABA (Gamma-aminobutyric Acid)
  • Seretonin
  • Dopamine

*Dopamine thuộc dạng đặc biệt vì có cả 2 khả năng, tùy vào dạng receptor mà nó liên kết.

Trong các neurotransmitter Kích thích thì Glutamate có hiệu lực mạnh nhất và tương ứng với nó ở neurotransmitter Ức chế là GABA. Đây cũng là những mục tiêu chính của rượu trong não.

A. Glutamate:

Một trong những lý do chính khiến tác dụng kích thích của Glutamate lên não lớn là do Glutamate có thể liên kết với nhiều Receptor khác nhau. Tuy nhiên, trong giới hạn của bài viết này ta chỉ quan tâm tới 1 trong số đó – một Receptor của Glutamate có tên NMDA.

NMDA receptor đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành trí nhớ – và cùng với nó là khả năng học hỏi. Cồn trong não sẽ liên kết với các NMDA receptor và gây ức chế và làm chậm hoạt động của các tế bào này. Tuy nhiên hoạt động của cồn ở đây thì không đơn giản. Mặc dù bắt chước Glutamate, nhưng khi liên kết với các NMDA receptor, cồn làm thay đổi cấu trúc của chúng và khiến cho Glutamate do não sản xuất ra giảm hiệu lực.

Ngoài ra, do NMDA đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành trí nhớ, khi lượng cồn trong não đủ lớn để gần như ngăn chặn toàn bộ hoạt động của các NMDA receptor thì sẽ có hiện tượng “Blackout”. “Blackout” là hiện tượng khi uống quá say, người uống sẽ không thể nhớ mình đã làm gì trong suốt một khoảng thời gian dài. Thậm chí, sau thời gian dài sử dụng có thể dẫn đến việc mất trí nhớ bệnh lý.

Tổng kết: Glutamate là chất dẫn truyền thần kinh có nhiệm vụ kích thích tế bào não hoạt động -> cồn ngăn chặn + làm giảm hiệu quả của Glutamate -> làm chậm hoạt động của các tế bào thần kinh. Sử dụng nhiều sẽ xuất hiện hiện tượng mất trí nhớ tạm thời; về lâu dài sẽ thành bệnh lý.

B. GABA:

Tương tự như NMDA receptor của Glutamate, khi cồn liên kết với các GABA receptor, chúng sẽ làm thay đổi những điểm liên kết này. Tuy nhiên, thay vì làm giảm hiệu ứng như với Glutamate thì cồn lại làm tăng hiệu quả của GABA. Do GABA có tính chất Ức chế nên khi tăng hiệu quả, khả năng gây ức chế của GABA tự nhiên càng lớn.

Tổng kết: GABA là chất dẫn truyền thần kinh có nhiệm vụ giảm/ngăn chặn hoạt động của các tế bào thần kinh -> cồn làm tăng hiệu quả của GABA -> tăng khả năng ức chế của GABA lên não.

Tổng kết ảnh hưởng của rượu lên thần kinh

Sau khi đã hiểu cơ chế hoạt động của rượu trong não, ta có thể tự suy được/hiểu những ảnh hưởng của rượu cả về ngắn hạn và dài hạn lên bộ não.

i. Những ảnh hưởng ngắn hạn:

Giảm khả năng hoạt động của não: bình thường một trong những nhiệm vụ lớn nhất của não là hạn chế những hành vi “không thể chấp nhận” trong xã hội. Tuy nhiên, khi hoạt động của não giảm, những hành vi này không bị ngăn cản sẽ biểu lộ hết ra ngoài. Ví dụ ngoài đời thực bao gồm: từ ăn nói linh tinh không kiểm soát; không kiểm soát được cảm xúc; cho tới xàm sỡ, lạm dụng tình dục người khác giới với nạn nhân chủ yếu là nữ, v.v

Đi kèm với nó là sự giảm khả năng tập trung, giảm hoạt động của các giác quan: mắt mờ đi, tai nghe không rõ đồng thời giảm khả năng phối hợp chân tay và đầu óc.

ii. Những ảnh hưởng dài hạn:

Do tác động của cồn lên NMDA receptor được nhắc đến ở trên; nếu sử dụng rượu bia lâu dài và liên tục sẽ làm giảm khả năng tập trung và tiếp thu; đặc biệt sẽ dẫn đến mất trí nhớ.

3. Nghiện rượu:

Câu hỏi đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi khi tìm hiểu về chủ đề rượu đó là: “Tại sao một đồ uống có vị không hề “ngon” – so với các loại đồ uống khác mà lại có thể nghiện được?” Quả thực là câu trả lời cho câu hỏi này không hề đơn giản.

Sau hành trình tìm hiểu về vấn đề này, tôi nhận thấy có 2 hình thức “nghiện rượu”. Mặc dù về kết quả là giống nhau: cùng là nghiện rượu, nhưng bản chất không giống nhau. Loại đầu tiên là nghiện do có ảnh hưởng của gene; và loại thứ hai là do môi trường. Tuy nhiên chúng đều có điểm chung là sự mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh.

Ở trên tôi có chỉ ra rằng, những đồ uống có cồn có tác dụng Ức chế Glutamate và tăng hoạt động của GABA. Theo đó:

Rượu -> ↓ Glutamate và ↑ GABA

Thế nếu một người sinh ra vốn đã ở trạng thái ngược lại thì sao? Tức là nếu không sử dụng rượu, Glutamate của họ hoạt động mạnh hơn bình thường và GABA thì hoạt động kém hơn bình thường? Theo đó:

Ở trạng thái bình thường: ↑ Glutamte và ↓ GABA

Với những trường hợp như vậy thì uống rượu vào khiến cho họ cảm thấy bình thường do rượu cân bằng các neurotransmitter. Sự mất cân bằng này là do di truyền mà có. Một trong những điển hình có thể quan sát được trong cuộc sống là nếu bố nghiện rượu/thuốc lá thì con trai cũng sẽ có xu hướng nghiện tương tự.

Trường hợp những người nghiện rượu do môi trường thì đơn giản là do tính chất công việc, bạn bè hay các yếu tố ngoại cảnh tác động mà phải sử dụng đến rượu.

Một trong những đặc tính sinh học của cơ thể là xu hướng tìm kiếm sự cân bằng. Sử dụng rượu liên tục trong một khoảng thời gian dài sẽ khiến cho việc ức chế thần kinh diễn ra thường xuyên. Các cơ chế được cơ thể sử dụng để lấy lại cân bằng bao gồm:

  1. Tăng số lượng NMDA receptor trong não lên – để bù lại việc bị ức chế giảm hoạt động
  2. Làm giảm số lượng GABA receptor trong não xuống – để bù lại việc bị kích thích quá nhiều

Chính vì sự thay đổi này mà những người nghiện rượu càng ngày càng phải uống nhiều – để lấy lại được sự cân bằng vốn có trong não. Chính vòng luẩn quấn: cơ thể thích nghi với rượu -> uống thêm rượu để quay trở về cảm giác ban đầu dẫn đến sự phụ thuộc vào rượu.

Thế nhưng sức ảnh hưởng của rượu không chỉ dừng lại ở Glutamase và GABA mà còn đến Dopamine – chất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò chính trong cơ chế nghiện nói chung ở cơ thể người.

A. Cơ chế gây nghiện dưới góc độ thần kinh học:

Do tính chất phức tạp của hiện tượng này và để đảm bảo bài viết không vượt quá sự phức tạp sẵn có, phần kiến thức này tôi sẽ không đi sâu vào và chỉ giải thích ở mức độ cơ bản. Hai cơ chế chính có liên quan trực tiếp đến việc nghiện rượu bao gồm:

  1. Kích thích quá mức hệ thống “thưởng” của não bộ (The Reward circuit) . Trong đó là một phần não có tên là nucleus accumbens – đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý về mặt nhận thức của các vấn đề như động lực (motivation), ghét/ác cảm (aversion) và phần thưởng (reward).
  2. Dopamine. Các chất gây nghiện còn kích thích sự sản sinh ra Dopamine ở vùng não có tên là VTA (Ventral Tegmental Area). Sự sản sinh Dopamine này có liên quan đến việc gây ra cảm giác “thèm muốn” của người nghiện. Về lâu dài, Dopamine không chỉ sản sinh ra khi sử dụng các chất gây nghiện, mà còn được sản sinh ra khi bạn nhận được “gợi ý” rằng sắp được sử dụng chất gây nghiện. VD như những người nghiện rượu khi biết chiều nay có “lịch” đi nhậu là họ sẽ sung sướng chờ đợi cả chiều để đến giờ đi uống

Ngoài lề: Cơ chế được nhắc đến ở trên không chỉ áp dụng cho những chất gây nghiện, mà còn cả ở những hiện tượng tâm lý tương tự. VD như khi bạn và người yêu hay đến một quán ăn nhất định – và có rất nhiều kỷ niệm đẹp ở đó. Nếu bạn đến đó một mình sau khi chia tay thì bạn sẽ cảm giác rất hụt hẫng. “Hụt hẫng” chính là cảm giác mà cơ thể chờ đợi “chất gây nghiện” để tiết ra Dopamine nhưng điều đó lại không đến. Chính nhờ cơ chế này mà Dopamine được cho là có ảnh hưởng tới cơ chế “học tập” ở người.

Tổng kết: Việc nghiện rượu có thể đến từ gene hoặc do các yếu tố môi trường. Các hệ chất dẫn truyền thần kinh bị ảnh hưởng trực tiếp từ việc nghiện rượu bao gồm: Glutamase, GABA và Dopamine.

IV. Sử dụng rượu bia ở mức độ vừa phải:

Phần lớn những tác dụng có hại của rượu được nhắc đến trong bài viết này đều là khi uống nhiều rượu trong khoàng thời gian dài. Vậy nếu chỉ uống vừa phải thì sao?

Đầu tiên, ta phải đưa ra được định lượng: thế nào là “vừa phải”. “Vừa phải” ở nam giới dưới 65 tuổi là 2 cốc/ngày và 1 cốc/ngày với nam giới trên 65 tuổi và nữ giới.

Các loại đồ uống khác nhau có định lượng khác nhau. Ví dụ:

  • Bia: 355ml/cốc
  • Rượu vang: 148ml/cốc
  • Các loại đồ uống cồn chưng cất: 44ml/cốc

Lợi ích:

– Hơn một trăm nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan tỷ lệ nghịch giữa việc sử dụng rượu bia vừa phải với nguy cơ mắc các bệnh như đau tim (heart attack), đột quỵ do thiếu máu cục bộ (ischemic stroke), bệnh mạch máu ngoại biên (peripheral vascular disease) và những nguyên nhân khác dẫn đến tử vong từ tim mạch. Tuy nhiên khi sử dụng nhiều hơn 4 cốc/ngày thì những tỷ lệ trên lại tăng.

– Việc sử dụng rượu bia vừa phải đã được gắn với một số những lợi ích khác về mặt sức khỏe; trong đó bao gồm: tăng độ nhạy cảm với insulin (insulin sensitivity), cải thiện các yếu tố liên quan đến hiện tượng tắc mạch máungăn chặn sự hình thành của các cục máu đông ở các mạch máu về tim, cổ và não.

– Ngoài ra, một số nghiên cứu chỉ ra rằng: sỏi thận và tiểu đường tuýp 2 ít xảy ra với những người sử dụng đồ uống có cồn ở mức độ vừa phải hơn là những người không uống.

Lời khuyên từ cá nhân

Ngoài những điều trên, tôi còn có một số lời khuyên muốn gửi tới các bạn về việc uống rượu:

  • Nếu tránh được uống rượu thì nên tránh – và tốt nhất là không bao giờ ép người khác uống rượu
  • Nếu phải uống rượu thì phải uống thật nhiều nước – để đảm bảo cơ thể đủ nguyên liệu cho quá trình phân tách rượu
  • Uống rượu bia hay khi đi nhậu sẽ khiến ta no nhanh nhưng bữa ăn lại không đủ dinh dưỡng. Nên bổ sung bằng hoa quả hoặc vitamin tổng hợp sau những buổi uống rượu

V. Tổng kết:

Trong cuộc sống hiện đại, khi mà những kênh mạng xã hội trở thành những nguồn cung cấp thông tin chính cho chúng ta, việc “cực đoan hóa” một vấn đề là khả phổ biến. Làm vậy để có thể thu hút người đọc bằng những tin “shock”. Nếu hiểu bản chất của rượu, ta sẽ hiểu công năng của nó để vận dụng nó đúng lúc, đúng thời điểm. Ví dụ như có những ngày stress và ta muốn tâm sự những điều khó nói với những người bạn tâm giao, rượu là công cụ tốt để ta làm lỏng bớt sự kìm hãm của lý trí. Tuy nhiên hãy hiểu rằng rượu chỉ là giải pháp tạm thời và nếu sử dụng nhiều chỉ là ta tự hại ta thêm mà thôi.

—–

Khi chuẩn bị tài liệu cho bài viết này, tôi đã tự hỏi là liệu có cần thiết để viết một bài phức tạp thế này, trong khi tôi chỉ cần ghép những phần “Tổng kết” lại thành một cái post đơn giản trên Facebook. Tuy nhiên nếu làm như vậy, tôi cũng vẫn sẽ như những “người viết báo” khác – chỉ đưa ra những nhận định về sức khỏe nói chung – hay việc uống rượu nói riêng mà không có cơ sở và không một lời giải thích.

Tôi hy vọng, ngoài phần kiến thức mà tôi chia sẻ được cho các bạn, thì các bạn hãy học cách đặt câu hỏi “Tại sao” cho những gì mình được đọc và được nghe. Học cách nghi ngờ những điều mình nghe được – rồi học cách tìm hiểu căn cơ, nguồn gốc của vấn đề. [Trên thực tế, rất nhiều những vấn đề tưởng chừng như cơ bản (như chủ đề về rượu này) nhưng thực tế khá phức tạp] Sau khi đã hiểu về nó, hãy tìm cách vận dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống. Quy trình đó là cách cơ bản để hình thành tư duy.

Learn to think for yourself.

DN

Reference list:

*Do lỗi tùm lum nên mình để reference ở dạng ảnh, ai muốn xin link tìm hiểu thêm thì comment nhé

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.